www.xbook.com.vn
ĐT: - Email: info@xbook.com.vn
SIÊU THỊ SÁCH TRỰC TUYẾN XBOOK
ĐC: Số 46 ngõ 897 Giải Phóng, Q.Hoàng Mai, Hà Nội


ĐIỀU KHIỂN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VIỄN THÔNG - CÔNG NGHỆ VÀ BÍ QUYẾT TRIỂN KHAI- TẬP 1

Tác giả: Trần Quang Huy
Nhà xuất bản: Văn hóa - Thông tin
Giá bìa:200,000
Giá bán:200,000
Năm xuất bản: 2010

Điều khiển chất lượng dịch vụ viễn thông - Công nghệ và bí quyết triển khai - tập 1

Bộ sách gồm 4 tập, được biên soạn công phu và chi tiết về một chủ đề vô cùng quan trọng trong thời điểm hiện nay. Nội dung cụ thể được tóm lược như sau:

Tập 1 gồm 2 phần.

Phần 1, tập trung vào lĩnh vực kỹ thuật điều khiển chấp nhận nói chung và các vấn đề công nghệ có liên quan tới quá trình ra quyết định chấp nhận một cuộc nối giữa một cặp nguồn – đích vào một mạng. Các quyết định như vậy được thiết lập trên cơ sở thỏa các yêu cầu QoS của cuộc nối mới nhưng không ảnh hưởng đến tài nguyên đã được thỏa thuận của các cuộc nối hiện hữu tại từng nút dọc theo lộ trình của nó. Các uật toán điều khiển chấp nhận cuộc nối (C.A.C) được xây dựng trên các lớp hàm mục tiêu điển hình nhất, tương ứng với các loại mạng phổ dụng hiện nay, bao gồm: các mạng không dây/di động (2G, 3G…), mạng ATM, mạng internet, và cả các mạng phi thể thức (Ad Hoc), một thực thể mạng quan trọng trong cấu trúc mạng thế hệ thứ 4. Trong mỗi phạm trù kỹ thuật, chúng ta tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ, tùy thuộc vào đặc điểm của môi trường mạng.

Phần 2, nghiên cứu chủ đề điều khiển dẫn nạp lưu lượng và cơ chế áp đặt chỉ tiêu nào đó lên tải lưu lượng và tính loạt của một cuộc nối đã được thiết lập tại lối vào mạng của nó. Điều khiển dẫn nạp lưu lượng bao gồm một tập hợp các cơ chế và kỹ thuật cụ thể dùng để: (1) định rõ các đặc trưng lưu lượng và các yêu cầu dịch vụ mong muốn (chẳng hạn như giới hạn độ trễ, dung sai tổn thất mong đợi) của một dòng dữ liệu, (2) định trạng cho các dòng dữ liệu (chẳng hạn như làm giảm tốc độ và (hoặc) các đặc tính truyền loạt của chúng tại biên hoặc tại các điểm được lựa chọn trong mạng), và (3) điều tiết các dòng dữ liệu và thực thi các tác vụ hiệu chỉnh (như hủy, làm trễ, hoặc đánh dấu các gói) khi lưu lượng lệch khỏi các đặc tả của chúng.
Chiến lược và thuật toán điều khiển dẫn nạp trên các hình thái mạng điển hình cho thuộc tính truyền loạt của lưu lượng đã được phân tích (ở đây là mạng Intserv và mạng CDMA). Nguyên lý thiết kế định trạng lưu lượng tối ưu và định trạng thông minh sẽ là cơ sở xuyên suốt quá trình thiết kế các bộ ghép định trạng ATM và các bộ định trạng gói.

Tập 2 gồm 2 phần.

Phần 3 nghiên cứu lĩnh vực công nghệ lập lịch gói. Phần này khảo sát hàng loạt các thuật toán lập lịch khác nhau được sử dụng trong hai môi trường mạng chủ yếu và phổ biến hiện nay: môi trường hữu tuyến và môi trường không dây.
Vì sao phải đặt vấn đề lập lịch gói? Các mạng gói cho phép người sử dụng chia sẻ các tài nguyên, chẳng hạn như bộ đệm và băng thông cuả liên kết. Tuy nhiên, tất yếu nảy sinh vấn đề tương tranh để dành tài nguyên. Vì vậy, khi có một lượng nào đó người dùng (các luồng hoặc cuộc nối) được ghép trên cùng một liên kết, thì lập tức phải có một qui tắc lập lịch gói để xác định xem gói nào sẽ được xử lý hoặc truyền tải trong thời điểm kế tiếp. Nói khác đi, cần phải có các thuật toán lập lịch tinh vi và hiệu quả để ưu tiên hoá lưu lượng người dùng, nhằm thoả các yêu cầu QoS khác nhau, đồng thời tận dụng đầy đủ tài nguyên mạng.
Bởi vì hầu như tất cả các cơ chế lập lịch trong môi trường các kênh không dây đều có nguồn gốc từ các thuật toán tương ứng trong môi trường các kênh hữu tuyến, cho nên, chúng ta sẽ xuất phát từ kỹ thuật lập lịch gói trong môi trường hữu tuyến. Từ đó sẽ đề cập tới những đòi hỏi đặc biệt cho lập lịch trong môi trường không dây và phương pháp biến đổi các thuật toán lập lịch trong môi trường hữu tuyến thành các thuật toán tương ứng để sử dụng trong môi trường không dây.
Một tập hợp có quan hệ các thuật toán, tức các cơ chế chia sẻ liên kết theo thứ bậc (HLS), cũng sẽ được giới thiệu; các cơ chế này cho phép phân bố độ dôi băng thông theo một cấu trúc phân cấp. Cuối cùng, chúng ta sẽ thảo luận một số vấn đề triển khai các thuật toán lập lịch trong Linux.
Dưới mỗi cơ chế, phần này cũng chỉ ra cách thức điều chỉnh thứ tự truyền dẫn các gói trong một tập hợp các cuộc nối được ghép tại một nút, sao cho có thể thỏa các yêu cầu QoS khác nhau.

Phần 4 dành riêng để khảo sát vấn đề triển khai hàng chờ gói công bằng (PFQ), một lớp thuật toán lập lịch gói rất quan trọng đã được nghiên cứu kỹ trong phần III. Vấn đề thách thức tiếp theo là kỹ thuật để triển khai các cơ chế như vậy, đặc biệt là khi số lượng các cuộc nối rất lớn hoặc tốc độ trên liên kết rất cao (chẳng hạn như 10 hoặc 40 Gbps).
Thông qua hàng loạt các thí dụ thực tế, chúng ta sẽ phân tích một số cấu trúc điển hình cùng các bí quyết công nghệ để triển khai các thuật toán đó trên một lượng lớn các cuộc nối và trên các liên kết thực tế có tốc độ rất cao. Chúng ta sẽ xuất phát từ các tiền đề công nghệ chủ yếu, bao gồm những nguyên tắc khung để triển khai PFQ và nêu ra những vấn đề chính trong thiết kế. Chúng ta sẽ phân tích ở mức vi mô các chip VLSI có độ tích hợp rất cao điển hình (như bộ sắp tuần tự (Sequencer), chip bộ nhớ khả lập địa chỉ theo nội dung ưu tiên (PCAM)), từ đó tiến tới ý tưởng về một cơ chế tìm kiếm hai mức trong chip PCAM (để có thể tìm kiếm phân cấp trên một cấu trúc dữ liệu hình cây) và phát triển một một phương tiện tìm kiếm nền RAM mới (RSE).

Tập 3 gồm 3 phần.

Phần 5 nghiên cứu chủ đề quản trị bộ đệm, tức tập hợp các công nghệ điều khiển quá trình dẫn nạp các gói vào vùng đệm và quyết định gói nào sẽ bị hủy khi bộ đệm bị tràn hoặc một sự kiện vuợt ngưỡng xảy ra.
Hàng loạt các chính sách cấp phát và chiến thuật quản trị bộ đệm sẽ được phân tích trong bối cảnh hai môi trường mạng điển hình: mạng hướng kết nối (ở đây là mạng ATM) và phi kết nối (ở đây là Internet).

Phần 6 trình bày các vấn đề công nghệ có liên quan tới điều khiển luồng và điều khiển nghẽn. Điều khiển luồng là quá trình cần thiết để đồng bộ tốc độ giữa một cặp nguồn – đích họặc giữa hai nút bất kỳ trên lộ trình của một cuộc nối. Điều khiển nghẽn nhắm tới điều hòa tải lưu lượng ngang qua một mạng để tránh xảy nghẽn và hồi phục sau nghẽn.
Phần 7 nghiên cứu quá trình định tuyến QoS và mô tả quá trình ra quyết định chọn lộ trình (trong một mạng hướng kết nối như ATM) hoặc chọn nút trong bước nhảy kế tiếp (trong một mạng phi kết nối như mạng IP) cho một cuộc nối mới trên tập phức hợp các lộ trình vật lý ngang qua một mạng. Các quyết định có thể phụ thuộc vào tính khả dụng của tài nguyên dọc theo lộ trình và khả năng thỏa các đòi hỏi QoS của cuộc nối mới.

Tập 4 gồm 2 phần.

Phần 8 mô tả chi tiết cấu trúc cơ bản của cấu trúc dịch vụ phân lớp (Diffserv). Cấu trúc dịch vụ phân lớp là một tập hợp các công nghệ cho phép các nhà cung cấp dịch vụ mạng chào bán các dịch vụ với nhiều mức QoS khác nhau tới các loại khách hàng khác nhau. Điểm tiến bộ của một cơ chế như vậy là, nhiều dòng lưu lượng có thể kết tập thành một số ít hơn các các kết tập ứng xử (BA); mỗi kết tập ứng xử sau đó sẽ được chuyển tiếp nhờ cùng một PHB tại router, do đó đơn giản hoá quá trình xử lý và lưu trữ có liên quan. Ngoài ra, cũng không cần có báo hiệu gì thêm, ngoài những thông tin tải trong DSCP của mỗi gói; cũng không đòi hỏi phải xử lý trong lõi của mạng Diffserv, vì QoS đã được hỗ trợ trên cơ sở từng gói.

Với Diffserv, xuất phát từ những cơ sở cuả công nghệ SLA (thoả thuận cấp độ dịch vụ), chúng ta phát triển nền tảng cho một sàn giao dịch tài nguyên trực tuyến với sự trợ giúp cuả các tác nhân thông minh (SLAT). Đây thực sự là một cách mạng, làm thay đổi về chất trong quan hệ hợp tác cổ điển (hợp tác cứng) giữa những nhà khai thác mạng.
Phần 9 nghiên cứu về công nghệ MPLS, với tư cách nó là một trong các công nghệ chủ yếu để bảo hành QoS trên qui mô mạng.
Với sự xuất hiện cuả các ứng dụng mới (chẳng hạn như VoIP, thương mại điện tử…), Internet hiện nay đã phải đối mặt với với những vấn đề khác hẳn so với những gì xảy ra trong Internet cổ điển. Để đạt điều đó, Internet phải mở rộng đồng thời trên một vài thứ nguyên, gồm không chỉ bó hẹp ở băng thông mà còn cả định tuyến, chất lượng dịch vụ, và cung cấp dịch vụ khách hàng. Công nghệ chuyển nhãn đa giao thức (MPLS) giải quyết các vấn đề nói trên bằng cách thay thế mô hình chuyển tiếp từng bước nhảy nền đích chuẩn bằng một mô hình chuyển tiếp trao đổi nhãn. Giải pháp này làm đơn giản hoá engine chuyển tiếp gói, cho phép dễ dàng mở rộng tới tốc độ terabit. Hơn nữa, nó còn tách chuyển tiếp khỏi định tuyến, cho phép áp dụng các dịch vụ định tuyến tùy biến hoặc chuyên dụng mới mà không đòi hỏi những thay đổi trong lộ trình chuyển tiếp.

Thông qua hàng loạt thí dụ cụ thể, các vấn đề công nghệ quan trọng khác cuả MPLS như vấn đề an toàn trong môi trường MPLS, cấu trúc MPLS cho môi trươp2ng không dây, MPLS hỗ trợ Diffserv và hai ứng dụng của MPLS là phân họach lưu lượng và các VPN cũng sẽ được trình bày.